Blogroll

Chữa triệt để bệnh thoái hóa cột sống từ bài thuốc nam

Thoái hóa cột sống là một trong những bệnh phổ biến hiện. Việc phát hiện kịp thời và điều trị thích hợp giúp bệnh nhân thoát khỏi bệnh lý này!

Chữa khỏi bệnh đau lưng từ bài thuốc gia truyền

Đau lưng là căn bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường xuất hiện ở tuổi trung niên.

Bí kíp hơn 20.000 người khỏi bệnh thoát vị đĩa đệm

Liệu trong thực tế hiện nay có sản phẩm nào chữa dứt điểm bệnh thoát vị đĩa đệm? Đây chính là câu hỏi của nhiều người đang mắc phải căn bệnh này.

Bài thuốc bí truyền từ cây mướp đắng trị khỏi bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường tuyp 2 và tiểu đường tuyp 1 là căn bệnh phổ biến hiện nay. Số người mắc bệnh tiểu đường đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng tại Việt Nam.

Cơ hội mới cho bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm

Phải đối mặt với những cơn đau dai dẳng mà dùng quá nhiều sản phẩm nhưng không mang lại giá trị. Nhiều bệnh nhân đã cảm thấy mất lòng tin vào việc chữa khỏi bệnh thoát vị đĩa đệm.

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

Đau lưng dưới

Phần lưng dưới chống đỡ hầu như toàn bộ trọng lượng cơ thể của chúng ta, do đó nó dễ bị tổn thương. Đau lưng dưới tuy không đe dọa tính mạng người bệnh nhưng lại đem đến những cảm giác khó chịu, ảnh hưởng đến cuộc sống.

Nguyên nhân và triệu chứng đau lưng dưới:

Nguyên nhân:

- Chấn thương cơ học có thể do tư thế người không đúng, béo phì, thiếu tập thể dục, hút thuốc và vận động cơ thể không đúng.

- Thoát vị đĩa đệm (trượt đĩa) có thể gây kích thích các dây thần kinh và gây đau thần kinh tọa, một điều kiện đau đi dọc xuống mông và chân.

- Bệnh thoái hóa ảnh hưởng đến cột sống.

- Những điều kiện ít gặp bao gồm u cột sống, nhiễm trùng và gãy xương.

Đau lưng dưới

Triệu chứng đau lưng dưới:

Đau dai dẳng

- Đau lưng trên

- Rối loạn chức năng bàng quang và đường ruột

- Sốt và giảm cân không rõ nguyên nhân

- Tình trạng tê hoặc yếu phát triển/trở nên nặng hơn

- Bị té ngã hay chấn thương trong thời gian gần liên kết với đau lưng. Quét khối u tủy sống có thể gây đau lưng dưới. U tủy sống, thoát vị đĩa đệm có thể gây áp lực lên rễ thần kinh

- Bắt đầu bị đau sau khi bị té, chấn thương, hoặc khi kéo một vật nặng

- Bị tê hoặc đau lan rộng ở ống chân dưới

- Bị viêm khớp, và bị đau dữ dội mỗi khi cử động hay xảy ra ở người cao tuổi.

- Cảm thấy đau khi vặn người, uốn cong hoặc thậm chí khi ngồi

- Cơn đau (cột sống) tiếp diễn đến và đi từ hồi nhỏ

- Đi tiểu ra máu, kèm đau một phần lưng cùng với đau rát khi đi tiểu

- Lưng bị cứng, đau vào buổi sáng và các khớp khác cũng cứng, đau, sưng hoặc đỏ

- Đau chính giữa phần cột sống dưới và bị đau cả xuống chân.

Biện pháp điều trị đau lưng dưới:

- Luôn luôn duy trì tốt tư thế cơ thể

- Duy trì mức cân nặng khỏe mạnh.

- Sử dụng đúng kỹ thuật vận động cơ học cơ thể / nâng tạ. Tránh gập/ cong ở eo.

- Thay đổi không gian nơi làm việc / (tối ưu nơi làm việc) để giảm sức ép lên lưng.

- Tập thể dục:

Nằm nghiêng về bên trái, tay bên phải chống trên hông, còn cánh tay trái cong lại, 2 bàn chân xếp chồng lên nhau, chân duỗi thẳng. Thót bụng lại và nhấc hông lên khỏi sàn. Bạn vẫn giữ thăng bằng trên chân trái và tay trái.Nhẹ nhàng hạ hông xuống về phía sàn. Sau đó nhấc hông lên trở lại. Tập mỗi bên một lượt và đổi bên. Một chân xoải ra.

+ Đứng thẳng 2 chân và tay để ngang ngực. Tập trung trọng lượng trên chân trái. Cong chân phải, để bàn chân phía sau người và nhấc chân lên cao cho đến khi cao gần bằng hông ( có thể thấp hơn một chút, nếu bạn cảm thấy quá khó). Để thăng bằng, nên xác định một điểm trên sàn nhà, cách chỗ bạn đứng từ 8-10 bàn chân, ở phía trước mặt của bạn. Một khi bạn đã xác định được thăng bằng, nên nhẹ nhàng thẳng chân phải, duỗi mũi chân ra. Giữ tư thế này trong một giây, rồi cong chân lại và duỗi chân ra lần nữa. Tập mỗi bên một lượt rồi đổi bên. Ngồi xổm trên một chân.

+ Đứng thẳng 2 chân, tay chống nạnh. Tập trung trọng lượng lên chân phải. Cong gối phải và hông như thể bạn đang ngồi trên 1 chiếc ghế. Thót bụng lại và duỗi chân trái hoàn toàn. Khi bạn hạ người xuống, để chân trái xoải ra ngoài. Ấn gót chân phải xuống và thẳng chân phải, di chuyển chân trái vào để đứng thẳng người lên. Tập đúng một lượt rồi đổi bên và tập lại.

Để trị đau lưng dưới, bạn nên tăng cường sức khỏe của mình và nhằm tránh đau lưng bạn nên đi đứng nhẹ nhàng, căng duỗi cơ bụng, cơ lưng, hông và chân.

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Đau lưng khi mang thai

Chị em bị đau lưng khi mang thai không nên chịu đựng, mà hãy làm theo một số mẹo sau đây để giảm các triệu chứng khó chịu do đau lưng gây ra.

Đau lưng khi mang thai là một hiện tượng khá phổ biến, không có gì lạ. Giai đoạn này, bạn đang tăng cân, cơ thể bạn đang thay đổi rất nhiều từ hình dáng bên ngoài tới nội tiết tố bên trong, những dây chằng nằm ở khung xương chậu của bạn đang dần được giãn ra qua thời gian em bé lớn lên trong bụng mẹ.

Tuy nhiên, bên cạnh việc kêu la, cắn răng chịu đựng, bạn hoàn toàn có thể giảm bớt thậm chí “đánh bay” được hiện tượng này nếu thực hiện đúng theo các lời khuyên dưới đây

1. Luyện tập tư thế:

Khi em bé của bạn phát triển, trọng lực của cơ thể bạn di chuyển về phía trước, mọi cơ, dây chằng trong cơ thể bạn bị kéo giãn ra và gây áp lực khiến lưng bạn bị đau. Để tránh tình trạng này, bạn cần phải giữ đúng tư thế cho mình trong mọi hoạt động.

Có những thói quen xấu như đi thõng vai xuống, ngồi quá lâu trước màn hình tivi hay máy tính... đều có thể là nguyên nhân khiến bạn càng dễ bị đau lưng hơn.

Đứng thẳng, ngồi ở tư thế đúng có thể giúp những cơn đau lưng được giảm đáng kể, bạn cần để vai thoải mái, thư giãn.

Đau lưng khi mang thai

Mặc áo nịt ngực đúng kích cỡ, không chật quá, không rộng quá.

Khi đứng, bạn cần đứng trên một vị trí chắc chắn, với một tư thế thoải mái nhất có thể. Nếu bạn phải đứng trong thời gian dài, bạn hãy cố gắng thay đổi tư thế liên tục để chân và lưng không bị mỏi.

2. Tắm nước ấm giúp giảm đau lưng khi mang thai:

Tắm nước ấm, chườm khăn nóng hoặc sử dụng các tia nước ấm của vòi hoa sen xịt vào những vùng bị đau cũng là cách giúp bạn giảm bớt cơn đau.

3. Không nên đi giày cao gót

Giày cao gót ảnh hưởng tới tư thế đi đứng của bàn chân. Toàn bộ trọng lượng cơ thể sẽ dồn vào các đầu ngón chân, điều này ảnh hưởng đến các dây thần kinh bên hông.

Thai nhi càng phát triển lớn, các dây thần kinh sẽ càng chịu áp lực mạnh hơn, dẫn đến những cơn đau lưng khủng khiếp ở lưng. Vì vậy, nếu bạn đang mang thai, bạn hãy hạn chế đi giày cao gót, những chiếc dép quai hậu hoặc giày đế thấp là một sự lựa chọn tốt hơn cả cho bạn vào lúc này.

4. Tập luyện các bài tập tăng cường sức mạnh và độ bền

Những bài tập trên sàn dành cho vùng xương chậu và vùng bụng dưới sẽ giúp bạn hạn chế được các cơn đau lưng khi mang thai. Để việc luyện tập được an toàn và dễ dàng, bạn cần tham khảo sự tư vấn và làm theo hướng dẫn của bác sĩ sản khoa. Chú ý thư giãn các cơ thật chậm sau khi việc luyện tập kết thúc.

5. Tránh cầm, vác vật nặng làm hạn chế đau lưng khi mang thai

Khi mang thai, cơ thể mẹ bầu phải gánh chịu rất nhiều áp lực vì em bé trong bụng đang phát triển dẫn đến sự thay đổi về trọng lượng cơ thể. Điều này khiến mẹ bầu rất dễ bị đau lưng. Do đó, trong suốt thai kì, mẹ bầu nên tránh những việc nặng, mang vác những vật cồng kềnh, nặng… vì chúng có thể dồn áp lực lên lưng.

6. Sử dụng đai đeo bụng

Để hỗ trợ việc nâng đỡ cho chiếc bụng to quá khổ của mình, bạn có thể sử dụng đai đeo bụng loại dùng cho những người đang mang thai.

Với 6 mẹo mà chúng tôi giới thiệu trên đây, chắc chắn chị em sẽ không phải chịu đựng những cơn đau lưng khi mang thai hành hạ.

Thứ Ba, 12 tháng 6, 2012

Tự dùng thuốc thấp khớp vô cùng nguy hiểm

Thông tin một nữ bệnh nhân 61 tuổi bị đau khớp cổ tay suýt mất cả bàn tay vì lạm dụng thuốc tiêm khớp, một lần nữa cảnh báo người bệnh về những hiểm hoạ khi tuỳ tiện dùng các thuốc trị bệnh khớp không theo chỉ định bác sĩ, hoặc theo chỉ định của những thầy thuốc không đúng chuyên khoa.

Điểm mặt thuốc có nguy cơ

Hiện nay thuốc thấp khớp trên thị trường rất đa dạng về chủng loại, nhiều thuốc gây tác dụng phụ, do đó bệnh nhân phải hết sức cẩn thận khi sử dụng.

Trước tiên là loại có chứa corticoide gồm các chất prednisolone, dexamethasone (dexa) hay beta-methasone... Thuốc này được sử dụng rất phổ biến, dùng nguyên trạng hay pha vào các loại thuốc tễ, thuốc viên của thuốc bắc hay thuốc nam dùng trị phong thấp. Do chứa corticoid nên các thuốc này giúp giảm đau rất nhanh nhưng tác dụng không lâu, do đó phải sử dụng liên tiếp và kéo dài, nếu ngưng thuốc bệnh nhân sẽ đau lại. Ngoài ra khi sử dụng lâu dài, bệnh nhân sẽ bị phụ thuộc vào thuốc, không uống sẽ thấy người bải hoải, ăn ngủ không ngon, bị béo phì (do giữ nước), mặt và ngực tròn, trong khi tứ chi bị teo nhỏ do teo cơ, có thể bị loãng xương, xương dễ gãy và cuối cùng là bị biến chứng tiểu đường.

Loại thuốc thứ hai là nhóm kháng viêm không steroid. Nhóm này gồm nhiều chủng loại do các gốc hoá học khác nhau. Loại kháng viêm không steroid cổ điển gây nhiều tác hại trên đường tiêu hoá như làm viêm loét nặng hơn, chảy máu hay thủng dạ dày tá tràng gây tiêu chảy; tác dụng phụ trên gan, thận và gây rối loạn đông máu. Gần đây, các nhà nghiên cứu dược đã tìm ra nhóm kháng viêm không steroid ức chế chuyên biệt COX-2 ít gây hại hơn trên gan, thận và nhất là trên đường tiêu hoá. Tuy nhiên những bệnh nhân có tiền căn viêm loét dạ dày tá tràng, các rối loạn về chức năng gan, thận và đông máu vẫn phải hết sức cẩn thận khi dùng.

Không sử dụng bừa bãi

Do thuốc điều trị thấp khớp có nhiều tác dụng phụ, vì vậy không nên sử dụng bừa bãi, nhất là ở những người có nguy cơ cao như trên 60 tuổi, bệnh nhân có rối loạn đông máu, rối loạn chức năng gan thận, người bị bệnh dạ dày,  phụ nữ mang thai và đang cho con bú, trẻ em dưới 13 tuổi.

Mặt khác, bệnh thấp khớp gồm nhiều bệnh khác nhau, hơn 50 bệnh: viêm khớp thoái hoá, viêm khớp dạng thấp, bệnh gout, lao khớp... tuy đều bắt đầu với triệu chứng đau nhức khớp nhưng mỗi loại có chỉ định điều trị riêng. Để chẩn đoán chính xác bệnh, có khi cần làm thêm các xét nghiệm máu, X-quang khớp, chọc dịch khớp, sinh thiết màng hoạt dịch… Do đó, khi bị đau ở các khớp, bệnh nhân nên đến bác sĩ chuyên khoa để khám và được chẩn đoán chính xác. Không nên tự điều trị dẫu bằng thuốc tây, thuốc bắc, hay thuốc gia truyền, bởi dễ gây biến chứng khôn lường, lúc đó việc điều trị bệnh và nhất là điều trị các biến chứng sẽ khó khăn, tốn kém và thời gian sẽ kéo dài hơn.

Vì bệnh khớp là bệnh mãn tính, không thể chữa khỏi bằng Tây y nên để điều trị dứt điểm bệnh khớp, bệnh nhân hãy đến các trung tâm Đông y uy tín để chữa trị. Bệnh nhân cần kiên trì điều trị theo chỉ định của thầy thuốc để bệnh mau khỏi.

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Bệnh xương khớp thường gặp ở phụ nữ mang thai và sau sinh

Phụ nữ mang thai cần thường xuyên tắm nắng để tăng tổng hợp vitamin D Quá trình thai nghén ảnh hưởng đến tiến triển của một số bệnh khớp như làm nặng thêm một số bệnh, mặt khác làm nhẹ đi một số bệnh như viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vảy nến. Nhiều trường hợp không được chẩn đoán và điều trị đúng đã ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của cả mẹ và con.
Đau vùng thắt lưng - khung chậu

Những biến đổi về tư thế liên quan đến quá trình mang thai (cột sống đoạn thắt lưng và đoạn cổ ưỡn ra trước, đoạn ngực và cùng cụt cong ra sau nhiều hơn so với trước khi mang thai) là nguyên nhân quan trọng gây đau lưng. Mặt khác, dưới tác dụng của hormone khi mang thai, các khớp, dây chằng mềm và giãn ra nhất là vùng chậu hông, khớp mu, khớp cùng - chậu và cùng cụt làm cho khung chậu dễ thay đổi và tăng độ rộng giúp mang thai và cuộc đẻ được dễ dàng.

Biểu hiện: Gần nửa trường hợp có đau thắt lưng trong khi mang thai nhất là 3 tháng giữa và 3 tháng cuối. Đau thường khu trú ở vùng thắt lưng và khớp cùng chậu, ít hoặc không lan, tăng khi vận động và sờ nắn tại chỗ, giảm khi nghỉ ngơi.

Điều trị: Dùng thuốc chống đau nhóm acetaminophen (paracetamol) và vật lý trị liệu là lựa chọn hàng đầu.

Sau khi sinh, nhất là sinh thai to, chuyển dạ kéo dài có thể gây đau nhiều vùng cùng chậu, không đi lại được. Nặng hơn nữa là viêm khớp cùng chậu nhiễm khuẩn (sốt cao, đau nhiều, gầy sút) cần phải điều trị bằng kháng sinh. Lưu ý có nhiều loại kháng sinh không được dùng vì tiết qua sữa ảnh hưởng đến con. Nhóm bêta lactamin vàcephalosporin là kháng sinh nên lựa chọn.

Viêm điểm bám tận của gân vào đầu xương và viêm bao gân

Với chi trên ở các vị trí bám tận của gân vào đầu xương hay bị viêm là viêm mỏm châm quay, mỏm châm trụ, lồi cầu ngoài và trong cánh tay. Với chi dưới là viêm điểm bám tận khối cơ dạng đùi (mấu chuyển lớn) và cơ khép đùi (mấu động nhỏ), gân Achille ở gót chân. Trong đó viêm bao gân vùng mỏm châm quay (hội chứng De Quervain) là hay gặp hơn cả.

Nguyên nhân gây bệnh là do vùng mỏm châm xương quay có một bao hoạt dịch bọc chung hai gân của cơ dài dạng và ngắn duỗi ngón tay cái. Khi bao này bị viêm sẽ gây đau và hạn chế vận động ngón cái. Đây là bệnh gặp nhiều nhất trong thời kỳ này, nhất là ở phụ nữ phải làm việc nhiều bằng tay và các động tác xoắn vặn cổ tay (giặt, vắt quần áo...).

Biểu hiện: Bệnh nhân thấy sưng và đau bờ ngoài của mỏm châm xương quay, đau tăng lên khi phải sử dụng ngón tay cái và đau liên tục nhất là về đêm. Khám có thể thấy vùng này hơi sưng nề, ấn vào đau. Khi làm một số động tác thì đau tăng: bệnh nhân duỗi và dạng hết sức ngón tay cái mà thầy thuốc chống đối lại, hoặc bảo bệnh nhân để ngón tay cái vào gốc ngón út, ta đẩy bàn tay khép vào hết sức thì sẽ gây một cảm giác đau nhói.

Để phòng bệnh, cần tránh các động tác xoắn vặn quá mức cổ tay và ngón tay như kể trên. Các thuốc chống đau nhóm acetaminophen và vật lý trị liệu (tia hồng ngoại) đem lại hiệu quả trong một số trường hợp. Nếu không đỡ phải đi khám bác sĩ chuyên khoa để có chỉ định điều trị cụ thể.

Cơn tétani do hạ canxi máu

Trong quá trình mang thai và cho con bú, một lượng lớn canxi được lấy từ người mẹ sang thai nhi để phát triển hệ thống xương của thai nhi. Quá trình này làm cho nồng độ canxi máu của người mẹ giảm, đặc biệt ở những người mẹ có chế độ ăn không đầy đủ canxi theo nhu cầu (1.500 mg/ngày) hay những người bị bệnh đường tiêu hóa mạn tính làm giảm hấp thu canxi ở ruột. Những người nghén nhiều như nôn nhiều làm mất nước, điện giải và tình trạng kiềm hóa kèm theo tình trạng lo lắng, tạo điều kiện cho cơn tétani xuất hiện.

Triệu chứng: Cơn tétani là một tình trạng kích thích quá mức của hệ thống thần kinh - cơ, dấu hiệu báo trước hoặc đi kèm là hiện tượng dị cảm, nặng nề ở tay, chân, vùng quanh miệng. Tiếp theo là tình trạng co cơ đột ngột, nhất là ở bàn tay và ngón tay tạo nên hình ảnh như bàn tay người đỡ đẻ. Tình trạng co cơ có thể biểu hiện ở các vị trí khác như ở chân hay ở mặt. Một số trường hợp có kèm với co thắt cơ trơn gây nên tình trạng khó thở do co thắt khí quản hay đau bụng do co thắt cơ trơn ở ruột... Tình trạng co cơ kéo dài từ vài phút đến vài giờ. Có thể có tình trạng lo lắng, hoảng hốt, mạch nhanh... Thăm khám giữa các cơn tétani có thể phát hiện được tình trạng co cơ vùng má khi gõ bằng búa phản xạ vùng trước lỗ tai (dấu hiệu Chvostek) hay cơn tétani tái xuất hiện khi yêu cầu bệnh nhân thở nhanh (gây tình trạng kiềm hóa máu do tăng thông khí). Xét nghiệm máu trong cơn sẽ thấy canxi máu giảm nhưng đôi khi có những trường hợp canxi máu không giảm.

Dự phòng và điều trị: Phải bổ sung canxi (1.000-1.500 mg/ngày) và vitamin D bằng các thức ăn giàu canxi (cua, cá, thịt...), phơi nắng để tăng tổng hợp vitamin D từ da. Các triệu chứng của cơn tétani sẽ hết đi nhanh nếu được tiêm tĩnh mạch dung dịch canxi (thường dùng 500-1.000mg dung dịch canxi clorua).

Để giữ gìn sức khỏe tốt cho cả mẹ và con, các sản phụ không nên tự ý sử dụng thuốc điều trị các chứng bệnh xương khớp trong thời kỳ thai nghén và cho con bú. Khi dùng thuốc phải có sự chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa để tránh những hậu quả không mong muốn cho cả mẹ và con.

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

Đông y trị đau nhức xương khớp

Thời tiết chuyển mùa, những đợt mưa phùn gió bấc khiến nhiều bệnh tật phát sinh. Cùng với các bệnh đường hô hấp, bệnh về xương khớp cũng gia tăng, đặc biệt đối với người cao tuổi. Thường hay gặp nhất là đau chân tay, đau bả vai, đau một bên cơ thể, đau nhức trong xương làm cho cơ thể chậm chạp, khó vận động, dáng người nhiều khi bị nghiêng lệch… Đau nhức làm ảnh hưởng đến thần kinh, cân cơ, bệnh nhân mất ngủ, chất lượng cuộc sống giảm sút.

Để phòng chống và khắc phục tình trạng này, xin giới thiệu một số bài thuốc hữu hiệu, thích ứng cho từng thể lâm sàng.

- Đau nhức khớp gối, đau nhiều về đêm, chân tay lạnh, da lạnh

Nguyên nhân do hàn thấp với tà khí xâm nhập mà gây nên bệnh.

Phép trị: Khu phong tán hàn, giảm đau trừ thấp.

Thuốc sắc:

Bài 1:Nam tục đoạn 16g, rễ xấu hổ 20g, thổ phục linh 20g, kinh giới 16g, thạch xương bồ 12g, đậu đen (sao thơm) 24g, hà thủ ô 16g, đương quy 12g, huyết đằng 16g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, chích thảo 12g. Cho các vị vào ấm, đổ 1 lít nước, sắc còn 350ml, chia hai lần uống trong ngày.

Bài 2:Ngải diệp phơi khô 16g, cỏ xước 16g, cây và lá cối xay 16g, thổ phục linh 20g, đơn hoa 16g, kinh giới 16g, bưởi bung 16g, tục đoạn 16g, đinh lăng 16g, tang chi 16g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, rễ xấu hổ 16g, xa tiền 12g, chích thảo 12g. Cho các vị vào ấm. đổ 1 lít nước, sắc còn 350ml, chia hai lần uống trong ngày (uống nóng).

Thuốc chườm: Lá ngải diệp 1 nắm, củ thạch xương bồ giã dập 24g, hai thứ trộn vào nhau sao nóng, dùng miếng vải gói thuốc lại chườm vào chỗ đau. Thuốc nguội thì sao lại để chườm tiếp. Công dụng: ôn kinh tán hàn, giảm đau trừ thấp.

Thuốc ngâm rượu: Rễ cỏ xước 20g, rễ xấu hổ 20g, rễ bưởi bung 20g, nam tục đoạn 20g, xuyên khung 20g, trần bì 12g, thủ ô chế 20g, kê huyết đằng 20g, tang chi 20g, đương quy 20g, táo nhân sao đen 20g, cam thảo 16g. Cho tất cả các vị cho vào bình sành, đổ ngập rượu để ngâm, sau 12 ngày là có thể dùng được. Ngày uống 50-60ml chia 2 lần trước bữa ăn. Công dụng: khu phong tán hàn, chống viêm trừ thấp, thông hoạt kinh lạc.

- Đau vai gáy, đau lan xuống một bên cánh tay, sờ vào da thấy lạnh, cơ ở vùng cổ bị co cứng, quay đầu rất khó kahăn, toàn thân mệt mỏi, kém vận động. Chứng trạng này là do bị nhiễm lạnh, ảnh hưởng đến chức năng của kinh lạc, khí huyết trở trệ…

Bài thuốc:

Bài 1:Rễ cúc tần 16g, nam tục đoạn 16g, cẩu tích 12g, phòng phong 10g, kinh giới 12g, đỗ trọng 10g, tần giao 10g, đương quy 12g, rễ tất bát 12g, quế 10g, cam thảo 12g, sinh khương 3 lát. Cho các vị vào ấm, đổ nước 1 lít, sắc còn 350ml, chia 3 lần uống trong ngày. Công dụng: ôn trung tán hàn, hoạt huyết thông mạch.

Bài 2:Ngũ gia bì 16g, ngải diệp 16g, đơn hoa 12g, kinh giới 12g, thạch xương bồ 12g, hoa hồng bạch 5g, hà thủ ô chế 12g, cỏ xước 16g, rễ xấu hổ 16g, quế chi 10g, thổ phục linh 16g, xuyên khung 12g, đan sâm 12g, chích thảo 12g, lá lốt 12g, trần bì 10g. Cho các vị vào ấm, đổ 1 lít nước, sắc còn 350ml, chia 2-3 lần uống trong ngày. Công dụng: thông kinh hoạt lạc, tán hàn chỉ thống.

Trong khi dùng thuốc có thể kết hợp day bấm huyệt. Lần lượt day bấm vào các huyệt sau đây: thị huyệt, phong trì, hợp cốc, huyền trung. Bấm mỗi huyệt từ 5-7 phút, trong khi bấm nếu đến được đắc khí thì giữ cường độ lưu ngón tay lại, kéo dài thêm thời gian. Tác dụng: thông được kinh lạc, thông được dương khí, từ đó sẽ giảm đau rất nhanh.

- Đau ở gót chân: đau nhức buốt trong gót chân, càng giá lạnh càng đau tăng, nhìn bên ngoài không thấy sưng, bàn chân và cẳng chân lạnh. Bàn chân có cảm giác tê bì, đi lại khó khăn. Toàn thân mệt mỏi, ăn ngủ kém, ngại vận động.

Nguyên tắc điều trị: Tán hàn, trừ thấp, giảm đau, thông kinh lạc

Bài thuốc:

Bài 1: Cẩu tích 12g, bưởi bung 16g, đơn hoa 16g, thổ phục linh 20g, xấu hổ 16g, kinh giới 16g, tang kí sinh 16g, đẳng sâm 12g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, xa tiền 12g, lá tre 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Nam tục đoạn 16g, hà thủ ô chế 16g, ngưu tất 16g, cà gai leo 12g, rễ cúc tần 12g, thổ phục linh 16g, củ giềng 12g, rễ lá lốt 12g, ngũ gia bì 16g, ngải diệp 16g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, sinh khương 4g, chích thảo 12g, hương nhu trắng 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Ngoài ra có thể dùng bài thuốc đắp: Vỏ cây gạo 1 nắm, cạo bỏ vỏ thô bên ngoài, sau đó cho vào cối đá giã nhỏ, trộn thêm đồng tiện vào, xào nóng để nguội bớt rồi đắp vào gót chân băng lại. Nên làm vào buổi tối trước khi đi ngủ. 

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

Phụ nữ dễ mắc bệnh thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp thường xảy ra ở người cao tuổi, nhưng hiện nay quá trình thoái hoá khớp lại  trẻ hóa, thường bắt đầu từ khá sớm và hay xảy ra ở phụ nữ.

Theo giới chuyên môn, từ tuổi ngoài 30 lượng xương của phụ nữ đã dần dần thoái hóa, khi đến thời kỳ mãn kinh thì bệnh thoái hóa khớp tiến triển rất nhanh và nếu không được chăm sóc kịp thời thì sẽ dẫn tới nhiều bệnh về xương, trong đó có thoái hoá khớp.

Thoái hoá khớp thường tấn công người già và phụ nữ, khiến cho bệnh nhân bị hạn chế cử động khớp, gây nên các cơn đau dữ dội và có thể dẫn đến tàn phế. Tuy nguy cơ tử vong không như cao huyết áp và tiểu đường nhưng thoái hoá khớp ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt thường ngày của bệnh nhân.

Thoái hoá khớp không phải của riêng người lớn tuổi, khoảng 30% người trên 35 tuổi, 60% người trên 65 tuổi và 85% người trên 80 tuổi có nguy cơ bị mắc bệnh. Trong đó, khoảng 2/3 số bệnh nhân là phụ nữ.

Theo TS. BS. Nguyễn Thị Mai Hồng, Phó trưởng Khoa Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Bạch Mai, nữ giới hay mắc bệnh thoái hoá khớp nhiều hơn nam giới, điều này có thể do phụ nữ thường làm công việc nội trợ nhiều hơn nam giới. Đặc biệt là nữ giới hay bị thoái hoá khớp gối và thường hay gặp sau lứa tuổi mãn kinh. Ngoài ra bệnh có thể gặp ở các khớp ngón tay, nhất là ngón tay cái.

Thoái hoá khớp ở nữ giới thường xảy ra đau và làm hạn chế vận động, khớp thường có tiếng kêu lục khục khi cử động do lượng acid uric trong ổ khớp giảm và các đầu xương cọ sát vào nhau. Dấu hiệu thường thấy nữa của bệnh là người bệnh thường thấy cứng khớp vào buổi sáng dưới 30 phút. Ngoài ra, còn có teo cơ nếu bệnh nhân hạn chế vận động kéo dài và thường bệnh nhân rất khó khăn trong việc lên xuống cầu thang hoặc làm các vận động hàng ngày.

Thoái hoá khớp ở phụ nữ không có nguyên nhân rõ rệt. Các yếu tố thúc đẩy quá trình thoái hóa bao gồm tuổi tác, tình trạng béo phì, chấn thương nhẹ và mãn tính ở khớp. Nhiều nghiên cứu cho thấy trong quá trình lão hóa chức năng chống đỡ của sụn bị suy giảm và dễ hư hỏng khi khớp cử động. Thoái hoá khớp thường tiến triển chậm, khi bị thoái hoá khớp mà không phát hiện sớm để điều trị thì rất dễ dẫn đến tình trạng biến dạng khớp, làm hạn chế vận động và đôi khi làm cứng khớp.

Với nữ giới bị béo phì thường xảy ra thoái hoá khớp, vì vậy cần có chế độ giảm cân. Ngoài ra, chế độ ăn uống cần tránh các thức ăn chứa nhiều mỡ, tăng cường chế độ ăn uống có nhiều canxi và chất chống ôxy hóa. Nếu bệnh nhân có đau có thể dùng thuốc chống viêm, giảm đau từ mức độ nhẹ đến mức độ nặng theo chỉ định của bác sỹ. Bên cạnh đó, cần có chế độ thể thao hợp lý như đi bộ, tuy nhiên, đối với bệnh nhân đang ở giai đoạn đau khớp thì không nên đi bộ nhiều.

Để phòng tránh thoái hoá khớp thì ngay từ lúc tuổi ngoài 40 nên có chế độ sinh hoạt và luyện tập nhẹ nhàng, đều đặn hàng ngày như: chơi thể thao, đi bộ, hạn chế mang vác nặng, làm các động tác quá sức. Đối với người cao tuổi cũng cần tập luyện nhẹ nhàng tuỳ theo sức mình và hoàn cảnh riêng. Khi có dấu hiệu nghi ngờ về khớp cần đi khám bác sỹ ngay để được tư vấn đầy đủ. Nên đi khám bệnh định kỳ để biết tình trạng sức khoẻ và biết cách phòng tránh bệnh.

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

Chế biến hạt gấc chữa bệnh viêm khớp

Như chúng ta đã từng biết, mật gấu là vị thuốc vô cùng hiếm, dùng trị chấn thương, đau nhức do bị tích tụ huyết, người kiệt sức, suy tim mạch, suy thận…

Tuy nhiên, mật gấu thiên nhiên không dễ dàng mà có được, nuôi gấu lấy mật cũng rất tốn kém và nguy hiểm. Dưới đây, xin được giới thiệu tới bạn đọc bài thuốc quý từ cây gấc của dòng họ Lý, dân tộc Sán Dìu (huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên).

Gấc thuộc loại dây leo, lá và dây màu xanh đậm. Hạt gấc chữa trị nhiều bệnh có giá trị hiệu quả cao, dễ tìm, dễ chế biến và dễ sử dụng, tác dụng dược tính hiệu nghiệm không kém mật gấu.

Hạt gấc (quả chín cây) màu xám sẫm, tròn hoặc từa tựa bánh xe răng cưa, vỏ cứng chọn lấy 30 đến 45 hạt đem rửa thật sạch, để ráo, nướng vàng một mặt, còn mặt kia nướng gần cháy lớp vỏ trên bếp tha củi. Sau đó, mang hạ thổ. Tiếp đến, bóc hết lớp vỏ, cho phần nhân vào cối, dùng chày giã nhỏ, gần nát (lưu ý không được dùng máy xay sinh tố để xay, vì như vậy sẽ làm mất hết công dụng của hạt gấc).

Đem tất cả cho vào bình thủy tinh (tuyệt đối không được sử dụng bình bằng nhựa), rồi dùng 1-2lít rượu gạo ngâm vào (rượu càng nặng, càng tốt). Ngâm khoảng 1 tháng rượu thuốc sẽ hóa đỏ bầm, mùi hơi hắc, vị chát đắng là có thể đem ra sử dụng (ngâm càng lâu, càng có tác dụng), chỉ xoa bóp chứ không được uống.

Công dụng: Chữa các bệnh như đau cơ, đau khớp, các vết đau bầm tím… Mỗi lần từ 5-10ml rượu, xoa bóp, chà xát đều vào vùng tổn thương.

Lưu ý: Không bôi lên các vết thương hở. Tác dụng sau nửa giờ. Ngoài ra có thể ngậm trong miệng chữa các bệnh như sâu răng, viêm họng, viêm nướu (lợi), chảy máu chân răng. Đặc biệt, chữa được bệnh quai bị (không phân biệt lứa tuổi), 4 hạt gấc rang cháy, tán nhuyễn, một phần cho vào 10ml nước, khuấy đều, chia làm 2 phần uống trong ngày, uống liên tục 5 ngày. Một phần dùng đắp lên vùng bị quai bị.

Tuyệt đối lưu ý: Hạt gấc có độc, không được uống.